Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

Dân Thái Bình quê tôi kêu cứu vì nhà máy thép TQ gây ô nhiễm



 Văn Quang

Trong bài trước tôi đã tường thuật với bạn đọc về những cái độc lạ lùng ở Việt Nam. Trước hết là chuyện ung thư, một thứ bệnh hết thuốc chữa. Không phải do “trời đất” hại ta mà do chính con người hại nhau.


Đến hôm nay khi đọc tin về huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình, hằng ngày những người dân sống gần khu công nghiệp Cầu Nghìn vẫn đang phải chịu đựng những đợt tiếng ồn khủng khiếp cùng khói bụi và mùi khét độc hại do nhà máy thép Shengli gây ra. Người dân tổ 12 thị trấn An Bài (Quỳnh Phụ) quanh năm sống thiếu ánh sáng bởi phải đóng kín cửa nhà, dùng vải che chắn nhiều lớp bên ngoài để tránh khói bụi từ 98 lò vôi.



Tôi rất ngạc nhiên vì cái tin này, tôi là dân huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình đời sống xưa kia rất bình yên, kể cả thời Pháp thuộc đến đời Mỹ tràn vào VN rồi Nhật cũng tràn sang, dân Quỳnh Phụ vẫn sống yên ổn làm ăn. Thật ra Quỳnh Phụ là tên sát nhập hai huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực. Dân Quỳnh Côi của tôi vẫn nằm riêng một góc trời.



Thị trấn An Bài có dòng sông được tách ra từ sông Luộc tại địa phận xã An Khê, Quỳnh Phụ, Thái Bình chảy theo hướng Đông Nam, đến địa phận xã Thụy Ninh, Thái Thụy, Thái Bình sông đổi hướng chảy ngoằn ngoèo theo hướng Tây Đông và hợp lưu với sông Thái Bình tại địa phận xã Thụy Tân (Thái Thụy) cách cửa Thái Bình khoảng 7 km về hướng Đông Bắc.



Sông có tổng chiều dài khoảng 35 km, đi qua các địa phương như huyện Quỳnh Phụ, Thái Thụy và Vĩnh Bảo - Hải Phòng. Làm ranh giới tự nhiên giữa Thái Bình và Hải Phòng.


Hai cột khói cao này ngày cũng như đêm, xả là thứ khói màu vàng chứa mạt sắt và vô số chất độc hại mà người dân nơi đây gọi nó là “thứ khí giết người”!



Ông Phạm Đức Thuận, Chủ tịch UBND thị xã An Bài cho biết, tổ dân phố 12 có chưa đến 50 gia đình dân nhưng có tới 98 lò nung vôi vây quanh. Từ 2012 trở lại đây, người dân đua nhau xây dựng lò sản xuất vôi để bán sang Đài Loan, Nam Hàn. Nhiều lò được cấp giấy phép nhưng không ít lò xây chui, việc đốt lò bằng than khiến môi trường ô nhiễm nghiêm trọng.



Ký ức vể con phố nhỏ và “bánh dò đất”


Tôi chỉ còn nhớ hồi còn nhỏ tôi sống ở Phố Bến Hiệp thuộc huyện Quỳnh Côi, nằm ngay cạnh con sông Luộc. Con sông có bến tàu Thủy, mỗi ngày có vài chuyến tàu từ Hải Phòng đi qua thường ghé lại hai cái cầu tàu bằng gỗ trả khách và đón khách. Dân Bến Hiệp của tôi lại nổi danh vì “bánh dò đất” vì nhằm gần đến giờ tàu chạy, mấy chú thanh niên lêu lổng giả là dân bán bánh dò, nhưng bên trong chỉ có nhân đất, khách thấy bánh dò to và mới hơn nên mua để ăn hay để dành, nhưng đến lúc mở gói lá bánh dò ra chỉ thấy toàn đất, mấy chú bán bánh dò đất nhảy tòm xuống sông bơi vào bờ rồi. Dân Bến Hiệp mang tiếng oan vì bánh dò ở đấy rất nổi tiếng thơm ngon, nhất là bánh dò nhà bà Khán Cờ, chiều chiều vẫn rao bán trong làng Hiệp rất nhiều người mua.



Nhưng chuyện tôi nhớ nhất là chuyện tôi cùng mấy thằng bạn sống ven sông, chiều chiều vẫn rủ nhau ra sông Luộc thi nhau bơi qua dòng sông lớn nước chảy cuồn cuộn. Đến mùa nước lớn có xác chết trôi nổi lờ đờ theo dòng sông, thường là các lính Mỹ, lính Nhật từ xa trôi về, có vài cái xác còn trắng hếu, có cái xác trương phình đen xì vì phơi nắng nhiều ngày giữa sông. Chúng tôi sợ nhưng vẫn cố nghiến răng nhắm mắt bơi qua. Sang đến bờ bên kia thuộc tỉnh Hải Dương rồi. Bên đó ven sông là cát bồi, dân trồng bắp (hay còn gọi là ngô), chỉ vài tháng là bắp cao ngập đầu người.



Lấy cớ rằng bắp Hải Dương ngon hơn bắp Thái Bình, chúng tôi bơi sang ăn trộm bắp bằng cách buộc túm hai cái ống quần lại quàng vào cổ, lấy trộm bắp cho vào ống quần. Đi một đoạn xa lên đầu dòng nước chảy xuôi thả cho nó trôi về bờ nhà khỏi mất công bơi. Nhưng còn nghịch láo hơn là đứng chửi thằng gác ruộng bắp cho đến khi nó vác gậy đuổi mới chịu nhảy xuống sông bơi về bờ bên nhà.



Đám gác ruộng chẳng bao giờ nhảy sông đuổi theo chúng tôi có lẽ vì họ sợ bên bờ Thái Bình có nhiều thanh niên giỏi võ hơn nhất là thanh niên xóm “nhảy tàu” họ đã từng thấy nhiều lần đứng bên bờ Hải Dương nhìn sang. Đến bây giờ tôi còn nhớ mặt mấy thằng bạn ở bến tàu, thằng nào cũng cao to nhưng bỏ học sớm theo bố làm việc ở bến tàu. Sau bao năm chiến tranh tôi chẳng còn gặp mặt thằng nào. Chúng nó ở lại miền Bắc chắc lại vào “bộ đội sinh bắc tử nam” hết rồi.

Cầu Hiệp bắc qua sông Luộc sang tỉnh Hải Dương.





Nhớ thời đạp xe đi học


Hai lần từ Saigon về thăm quê với anh em trong toà soạn báo Văn Nghệ Úc, tôi đi qua phố Bến Hiệp xưa chỉ còn lại một dãy nhà tranh, những đống gạch của dãy phố được lệnh “tiêu thổ kháng chiến” vẫn còn ngổn ngang trong đó có cả ngôi nhà hai tầng của nhà tôi gạch vữa đã xám đen xám đỏ rất tang thương.



Chỉ có một cây cầu rất “hoành tráng” bắc ngang qua sông luộc, nghe nói do ông Hòang Trung Hải vận động với tỉnh Hải Dương góp vốn xây dựng. Ông Hoàng Trung Hải hồi xưa ở gần nhà tôi và cũng ở sát bờ sông Luộc gần trại lính Tây. Tôi chỉ biết bố mẹ ông chứ khi đó ông chưa ra đời. Bây giờ đứng trên cây cầu tôi bồi hồi nhớ lại thuở ấu thơ của mình hồi chưa có cây cầu.



Mỗi sáng tôi ở Phố Bến Hiệp đạp xe đạp đi lên trường huyện học, trời gió rét căm căm, tôi quấn khăn phô la, mặc áo “va rơi dạ” đạp xe ra đường chưa một bóng người. Qua hành bánh rán của bà Việt vợ ông Tàu ngồi núp ở giữa hai hiên nhà đang rán bánh trong chiếc chảo nóng, tôi chui vào ăn vài cái cho đủ sức đạp xe. Chưa có cái bánh nào ngon hơn bánh rán buổi sáng như thế.



Mẹ tôi biết tôi hay ăn bánh rán của bà này nên bảo cứ bán chịu cho tôi cũng được, bà này lại là người mướn tiền của mẹ tôi trả lãi hàng tháng. Có tháng tôi ăn chịu hết luôn nửa tháng lời, mẹ tôi chỉ cười mắng yêu “có sức thì ăn nữa đi, ăn nhiều vào, cuối năm mẹ cưới vợ cho.” Quả thực hồi mới lớn tôi để ý đến một cô hàng xóm ở trước nhà. Cô bằng tuổi tôi nhưng là dân Hà Đông lập nghiệp ở phố tôi lâu rồi, dân Hà Đông có tiếng là dân buôn bán nên cô có gánh hàng xén mỗi sáng quẩy hai cái bồ nhỏ đến chợ bày đủ thứ ra bán. Cô bé rất xinh, hàm răng đều trắng bóng, thỉnh thoảng cũng liếc nhìn tôi rất nhanh rồi đỏ mặt quay đi.



Hồi đó phố tôi lập ra Đoàn Thiếu Niên Xung Phong và Thiếu Nữ Xung Phong. Mà thật ra có xung phong quái gì đâu, chỉ xung phong ăn là nhanh nhất. Tôi là trưởng đoàn Thiếu Niên Xung Phong, nàng là trưởng đoàn thiếu nữ xung phong. Thỉnh thoảng được các đàn anh cho đi diễn kịch lại lôi nhau ra cái trụ sở bé tẹo để tập kịch. Tập kịch thì ít tập buôn chuyện thì nhiều, chuyện gì cũng biết từ chuyện nhà ông này mất gà đến chuyện bà kia thua bạc bị chồng đánh…

Cầu Nghìn ở Quỳnh Phụ.




Rồi chiến tranh xảy ra, dân Bến Hiệp cũng như dân Thái Bình nháo nhào chạy loạn. Nhìn lại trên bờ đê vẫn còn thấy mấy anh lính Tây cặp súng kè kè nhìn dân chạy loạn. Rồi họ lập một cái đồn lính trên phố tôi dân gọi là “bóp lính Tây,” chỉ có chừng một trung đội bảo an ở đồn này thôi, thỉnh thoảng họ chui vào làng tôi (lúc đó gọi là làng Tề) lùng sục gái. Có một anh du kích đặt mìn ở ngã ba đình, núp sau bui tre nhà bà cả Song lối đi sang nhà tôi, đợi lính Tây đi qua kéo sợi dây giấu dưới mặt nước, giật quả mìn nổ tung làm mấy anh lính lăn quay ra chết. Nhưng rồi không hiểu bọn Tây có chỉ điểm thế nào mà anh du kích giật mìn bị chúng nó vây bắt ngay tại nhà, đó là anh Dự trước làm cho nhà tôi từ hồi còn bé sau làm tá điền, được nhà tôi cho manh đất làm nhà và cưới vợ. Anh tham gia du kích bao giờ tôi không biết, bỏ lại ngôi nhà tranh và cô vợ mới cưới.



Chiến tranh qua đi, tôi ra thành phố đi dạy học rồi khi chia đôi đất nước, tôi chạy vào miền Nam. Nửa thế kỷ trôi qua cứ đinh ninh mình là người Sài Gòn, hầu như quên mất quê mình ở đâu.



Đến hôm nay chỉ đọc tin trên vài tờ báo, quê hương lại hằn lên rõ từng nét một. Nửa thế kỷ trôi qua, tôi tưởng dân Quỳnh Phụ của tôi đã “tiến bộ” hơn rất nhiều, đời sống phong phú hơn nhưng mọi thứ lại khác.

Người dân thường xuyên đeo khẩu trang ngay cả khi ở nhà.




Sau nửa thế kỷ dân Quỳnh Phụ được hưởng những gì?


Mới đây, một lá đơn dài hai trang được cho là của một người dân sống tại Thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được đăng tải trên các diễn đàn của tỉnh Thái Bình đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm, đồng tình của rất nhiều bạn đọc.



Lá đơn được viết với nội dung kêu cứu vì ô nhiễm của Công ty thép đặc biệt Shengli Việt Nam gây ra cho khu vực này.



Nội dung lá đơn này cũng nêu rõ: Ngày ngày trên dòng sông Hóa xuất hiện rất nhiều những con tàu chở phế liệu; Trên đường đầu Cầu Nghìn hàng mấy trăm chuyến xe tải trọng tải nặng gầm rú, bụi mù. Trong nhà máy lò nấu phế liệu lửa bốc hùn hụt, bụi, nhiệt độ tỏa ra như muốn thiêu chết mọi người. Khí thải xả ra vô tội vạ, lúc xả sáng, lúc xả trưa, lúc xả chiều. Khí lúc vàng nhạt, lúc đen xì bốc ra cuồn cuộn, bay như mây ở trận cuồng phong, hạt rụng xuống, hạt bay xa cách 3-4 cây số. Ngồi trong nhà cũng phải bịt khăn chống bụi.



Người dân chúng tôi bị ảnh hưởng từ lâu về không khí, nguồn nước sinh hoạt do mạt sắt . Nguy hiểm hơn, gần nhà máy là bệnh viện và gần 4 ngàn học sinh các cấp bị ảnh hưởng trực tiếp, sự nguy hiểm tiềm ẩn với môi trường và con người của nhà máy thép Shengli được nêu rõ trong lá đơn kêu cứu.



Cũng theo lá đơn này, mặc dù đã nhiều năm người dân phải sống trong cảnh khói bụi, ô nhiễm, tiềm ẩn nhiều mầm bệnh nguy hiểm nhưng không có một cơ quan chức năng nào vào cuộc?



Công ty TNHH thép đặc biệt Shengli Việt Nam.

Ông Phạm Đức Thuận - chủ tịch thị trấn An Bài cho biết, một năm có ít nhất 4 lần tổ chức tiếp xúc cử tri, tại những buổi này người dân có nêu lên ý kiến, đề ghị UBND thị trấn phối hợp với các cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra hoạt động của nhà máy thép Shengli để đảm bảo được môi trường sống cho người dân.



Theo ông Thuận, nhà Máy thép Shengli được chính phủ, UBND tỉnh cấp phép đầu tư vào khu công nghiệp Cầu Nghìn, cấp phép từ năm 2006 và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2008. Từ khi công ty này hoạt động đều được các cấp thẩm định, đủ điều kiện để đầu tư.



“Người dân nơi đây từ lâu đã quen với khí hậu trong lành, yên ả, nên việc nhà máy thép hoạt động gây ô nhiễm khiến người dân vô cùng bức xúc. Nhất là trong những lần nhà máy bị vỡ lò hơi, khói và mùi thải ra ngoài rất khó chịu.”



Rõ ràng quan bỏ mặc dân, càng văn minh, quan càng lì lợm, ông Phạm Đức Thuận đã chỉ rõ tội phạm chính là Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh cấp giấy phép đầu tư vào khu công nghiệp Cầu Nghìn, cấp phép từ năm 2006 và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2008. Từ khi công ty này hoạt động đều được các cấp thẩm định, đủ điều kiện để đầu tư. Công ty thép đặc biệt Shengli Việt Nam là doanh nghiệp thép quy mô lớn 100% vốn đầu tư Trung Quốc do Công ty đầu tư phát triển Shengli (Phúc Kiến) cùng với tập đoàn xuất nhập khẩu khoáng sản ngũ kim tỉnh Quảng Đông cùng nhau đầu tư thành lập.



Thì ra huyện Quỳnh Phụ của tôi nửa thế kỷ nay, ngày càng văn minh vì các quan học tập được thói quên thằng dân, bắt tay với mấy chú Tàu cho xây dựng triền miên toàn những nhà máy nguy hiểm chết người. Đây không phải chuyện lạ, mấy ông quan bán mọi thứ cho Tàu từ nông sản, thực phẩm đến bán nhà bán đất của dân cho Tàu.



Tôi tưởng chuyện này quá dễ để tìm ra thủ phạm, cứ lôi mấy ông trong Hội Đồng Nhân Dân tỉnh ra “hỏi thăm sức khỏe” đồng thời điều tra tài sản có ý kiến của nhân dân là lòi ra ngay. Đến bao giờ Ủy Ban Điều Tra mới làm đây? Không làm thì mất nước là chuyện tất phải xảy ra.



Văn Quang

(Sài Gòn 13.02.2017)