Affichage des articles dont le libellé est Phạm Văn Đồng. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est Phạm Văn Đồng. Afficher tous les articles

05 mai 2015

04 novembre 2014

Văn bản „giải độc“ hội nghị Thành Đô Và Những Điều Dối Trá Của Chính Trị Gia




TK Tran


Trong thời gian qua đã xuất hiện trên các phương tiện truyền thông một văn bản của Ban Tuyên Giáo Trung Ương phủ nhận những nghi ngờ rằng năm 1990 ở Thành Đô đã có một thỏa thuận giữa đảng Cộng Sản Việt Nam và đảng Cộng Sản Trung Quốc là Việt Nam chấp nhận từng bước sáp nhập vào Trung Quốc.
Văn bản của Ban Tuyên Giáo có giá trị như thế nào? Có đủ tính khả tín để đập tan nghi ngờ của người dân về thỏa thuận bán nước ở Thành Đô, hay chỉ là lời nói dối, khi người cầm quyền bị dư luận dồn vào chân tường, phải trả lời về một vấn đề hệ trọng. 
* * *

30 août 2014

Nhật thực


Phạm Thị Hoài 
Phạm Thị Hoài
Ảnh Internet
Trong chương trình Ngữ văn bậc Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông ở Việt Nam, lớp 6 có bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ; lớp 7 có hai bài thơ “Cảnh khuya” và “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí Minh, bài “Đức tính giản dị của Bác Hồ” của Phạm Văn Đồng và bài báo “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu” của Nguyễn Ái Quốc; lớp 8 có ba bài thơ “Tức cảnh Pác Bó”, “Ngắm trăng” và “Đi đường” của Hồ Chí Minh; lớp 9 có bài “Phong cách Hồ Chí Minh” của Lê Anh Trà và bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương; lớp 11 có “Vi hành” và Nhật kí trong tù của Nguyễn Ái Quốc; lớp 12 có “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chủ tịch và bài thơ “Bác ơi” của Tố Hữu; duy nhất lớp 10 vắng bóng Bác Hồ, chỉ vì chương trình lớp này dành riêng cho văn học cổ trung đại. 

07 août 2014

VỀ HỘI NGHỊ CẤP CAO VIỆT - TRUNG TẠI THÀNH ĐÔ - TRUNG QUỐC



Hồi ký "Hồi Ức và Suy Nghĩ" của Trần Quang Cơ
Nhà báo Trần Quang Thành giới thiệu
Bài thứ nhất
LỜI GIỚI THIỆU: Từ đầu năm 2004, giới cán bộ  ngoại giao rồi giới trí thức ở Việt Nam đã chuyền tay nhau tập hồi ký Hồi ức và Suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao. Tập hồi ký 82 trang (khổ A4, viết xong lần thứ nhất năm 2001, hoàn thành tháng 5-2003)  chưa được xuất bản công khai. Với nội dung phong phú, chính xác và trung thực, tác giả cung cấp những thông tin quý hiếm về những vấn đề Việt Nam đương đại.

06 août 2014

Thực trạng Việt Nam: Vấn đề và Giải pháp


Lê Anh Hùng

05.08.2014

Thực trạng Việt Nam là chủ đề của vô số bài viết của các tác giả trong và ngoài nước. Không chỉ các tác giả và cơ quan truyền thông độc lập mà ngay cả một số cơ quan báo chí chính thống của nhà nước Việt Nam cũng đã chỉ ra thực trạng ngày càng đáng báo động của Việt Nam suốt mấy năm qua: nền kinh tế rơi vào trì trệ; khoảng cách tụt hậu ngày càng xa so với các nước láng giềng; đạo đức xã hội ngày một xuống cấp trầm trọng; tham nhũng ngày càng tràn lan, trắng trợn; ô nhiễm môi trường ngày càng lớn… và đặc biệt là sự lệ thuộc ngày càng nặng nề vào một Trung Quốc đang không ngừng trỗi dậy và đã công khai dã tâm bành trướng, thôn tính.[i]

05 août 2014

PHẢI CÔNG BỐ CÁC THỎA THUẬN Ở THÀNH ĐÔ CHO NHÂN DÂN BIẾT

.
                                                          -Nguyễn Đăng Quang-

 
            Cách đây 24 năm, ngày 3 và 4/9/1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước hai nước TQ và VN. Tham dự cuộc gặp,  phía TQ, dẫn đầu là Giang Trạch Dân, TBT Đảng CSTQ, và Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện nước CHND Trung Hoa. Dẫn đầu đoàn VN là Nguyễn Văn Linh, 

28 juin 2014

Việt Nam-Trung Quốc: Ai vay nợ và ai phải trả


Song Chi

H1
Chủ Tịch Nước CSVN Trương Tấn Sang “trao đổi” với cử tri khi tiếp xúc ở Sài Gòn sáng 26 tháng 6, 2014. (Hình: Tuổi Trẻ)
Trong buổi tiếp xúc với cử tri tại Sài Gòn ngày 26 tháng 6, 2014, ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đã có những câu phát biểu được báo chí trích dẫn, về vấn đề mà người dân quan tâm nhất hiện nay là tình hình biển Ðông và mối quan hệ với Trung Quốc.
Chỉ cần đọc/nghe qua những phát biểu này của một trong bốn nhân vật đứng đầu bộ máy đảng và nhà nước cộng sản, người ta cũng có thể nhận ra quá nhiều điều không ổn trong quan điểm, tư duy, não trạng của các lãnh đạo Việt Nam. Từ đó dẫn đến cách hành xử lúng túng, bị động, bạc nhược của họ trước Bắc Kinh bao lâu nay.

24 juin 2014

"Công thư 1958" qua đánh giá của các học giả quốc tế

 

Hải Châu
GS Carl Thayer phát biểu tại cuộc hội thảo (Ảnh: HC)
Nhiều học giả, nhà nghiên cứu có tên tuổi trên thế giới dự hội thảo quốc tế “Hoàng Sa – Trường Sa: Sự thật lịch sử” tại Đà Nẵng đã phản bác luận điệu của Trung Quốc liên quan đến “Công thư Phạm Văn Đồng 1958” 
 
Biển Đông chưa bao giờ là lãnh thổ Trung Quốc


Theo GS Carl Thayer (nguyên GS Học viện Quốc phòng Úc, chuyên gia về Việt Nam và Đông Nam Á), Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) không chấp nhận yêu sách lịch sử hay sự biện minh lịch sử như là yếu tố quyết định trong việc xác định chủ quyền đối với các cấu trúc biển và các vùng biển. 

17 juin 2014

ĐẰNG SAU PHẠM VĂN ĐỒNG LÀ NHỮNG AI?

Theo FB Nguyễn Hưng Quốc



Cách đây hơn một tháng, khi nói đến những bế tắc của chính quyền Việt Nam trong cuộc đương đầu với sự bành trướng trên Biển Đông của Trung Quốc, hầu như mọi người đều cho đó là hậu quả của các chính sách sai lầm của đảng Cộng sản Việt Nam kể từ sau Hội nghị Thành Đô năm 1990: “Lấy giặc làm bạn”. 

Hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng khó hay dễ?

Theo RFA

Gia Minh, biên tập viên RFA 
Công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc
Công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc
RFA files




Sau khi hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tiến hành khoan thăm dò và di chuyển tại vùng biển mà Hà Nội cho là thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc đưa ra những văn bản từ thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa chứng minh Bắc Kinh có quyền hoạt động tại khu vực đó và chính Việt Nam đang cản trở phía Trung Quốc.
Hà Nội đã đưa ra những lập luận phản bác đối với một trong những văn bản đó là Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng hồi năm 1958. Tuy nhiên theo một số nhà trí thức Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài thì những lập luận phản bác của Việt Nam chưa đủ mạnh.

15 juin 2014

CÓ CẦN PHẢI THÔNG CẢM CHO ÔNG PHẠM VĂN ĐỒNG?

Theo BVN


Phạm Quang Tuấn
Trong yêu cầu bức thiết chống lại mọi âm mưu sâu hiểm của Trung Nam Hải đang từng bước thò hẳn nanh vuốt chiếm biển đảo nước ta, hợp pháp hóa tham vọng “đường lưỡi bò” gớm ghê của chúng, việc xem xét hậu quả của Công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 về mặt pháp lý quốc tế đã trở thành một tâm điểm để giới học giả trong ngoài nước sôi nổi tham gia bàn luận. Đến nay, hầu như rất ít người còn khăng khăng bênh vực tính vô hại của Công hàm ấy vì xét bề nào thì đó cũng là một trong những cái bẫy do mình tự bày ra làm vướng chính chân mình (nặng lời như ông Nguyễn Khắc Mai là một công hàm phản quốc, phản động), cần phải chóng vánh gạt sang một bên để Nhà nước Việt Nam dám đường hoàng nối gót Philippines kiện Trung Quốc ra Liên Hiệp Quốc.
Nhiều ý kiến phong phú góp bàn về cách hóa giải Công hàm Phạm Văn Đồng đáng cho ta suy xét, như việc đề xuất với Quốc hội chính thức ra biểu quyết phủ nhận nó (Nguyễn Khắc Mai), hoặc kêu gọi chính quyền mạnh dạn thành lập chế độ mới để tránh khỏi ràng buộc pháp lý với chế độ miền Bắc trước kia (Hà Sĩ Phu). Gần đây nhất là ý kiến của GS Tạ Văn Tài và TS Vũ Quang Việt đưa ra Công ước Kế tục Quốc gia đối với Hiệp ước 1978 của LHQ mà các ông mới tìm thấy, cho phép một quốc gia kế tục (CHXHCNVN) có thể bác bỏ các hiệp ước về lãnh thổ bất bình đẳng hoặc do sức ép mà quốc gia tiền nhiệm (VNDCCH) đã phải thừa nhận với láng giềng của mình (xem đây). Nhưng cũng có ý kiến quyết liệt hơn, chưa hẳn tin vào tính khả thi của Công ước nói trên trong trường hợp CHXHCNVN và VNDCCH thực tế chỉ là một, không khác nhau về bản chất, đòi hỏi phải thay đổi thể chế CHXHCNVN vốn đã lộ rõ quá nhiều khuyết tật: tham nhũng, độc tài, dày đạp lên dân chúng, cướp bóc cho phe nhóm, bần cùng hóa xã hội, đưa kinh tế xuống vực thẳm, nô lệ vào ngoại bang… chuyển sang một thể chế thực sự dân chủ – giải Cộng –, theo đó sẽ “giải Trung Quốc hóa” hữu hiệu mà Công hàm PVĐ là một khâu có mối liên hệ hữu cơ.
Song song với việc tìm biện pháp hóa giải Công hàm Phạm Văn Đồng, lại cũng có những người tìm hiểu động cơ của tác giả hoặc tập thể tác giả bức Công hàm này. GS Cao Huy Thuần ở Pháp thuộc trường phái tỏ ra thông cảm với hoàn cảnh tạm gọi là “éo le” của người viết thuở bấy giờ: bị kẹp cứng giữa hai đàn anh trong cùng phe XHCN, giữa thời buổi chiến tranh lạnh, khi ông anh Liên Xô công bố văn bản gì thì ông em Việt Nam cũng phải nặn ra một “bản sao” tương tự. Kể cũng đáng thông cảm thật. Nhưng như thế thì lập trường dân tộc ở thời điểm những năm đó có còn được người cầm quyền nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa coi là chính yếu nữa không? Hay trước yêu cầu của sự thống nhất một phe – phe XHCN nhằm đối trọng với “phe đế quốc” – và trước mục tiêu phấn đấu cho “đại đồng thế giới” mà ai cũng mơ ước, quyền lợi quốc gia đã bị nhìn nhận “nhẹ tựa lông hồng”? – “Bên ni biên giới là nhà / Bên kia biên giới cũng là quê hương” (Tố Hữu)!!!
Trên tinh thần phản biện để tìm ra chân lý nhằm dứt bỏ mọi sự lướng vướng trong nhận thức tư tưởng, cũng là một cách thiết thực góp phần cứu nguy đất nước hôm nay, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu ý kiến trao đổi với GS Cao Huy Thuần của TS Phạm Quang Tuấn.
Nguyễn Huệ Chi
Là một người quan tâm tới vấn đề Biển Đông và đã từng lên tiếng trên báo chí ngoại quốc để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, tôi kinh ngạc khi đọc bài biện hộ cho Công hàm Phạm Văn Đồng (PVĐ) của GS Cao Huy Thuần (xem đây).
Kinh ngạc không phải vì những lời biện hộ trong bài. Những lý lẽ tương tự đã từng được đưa ra rất nhiều bởi báo chí trong nước và những dư luận viên trên mạng. Nhưng kinh ngạc vì chúng xuất phát từ một vị giáo sư của một đại học Pháp.

Văn tự bán Hoàng Sa, Trường Sa đâu?



Trong âm mưu chiếm đoạt Trường Sa, Hoàng Sa (HS, TS) của Việt Nam, Trung Cộng chỉ có trong tay công thư của ông Phạm Văn Đồng (PVĐ). Vốn liếng của chúng chỉ có thế, không còn gì khác. Ấy vậy mà, từ cái mảnh giấy con con ấy, chúng đòi đuổi người Việt Nam (VN) ra khỏi nơi mà VN đã canh giữ, khai thác từ bao đời nay. Không đuổi được thì tìm cách cướp đoạt như hai cuộc xâm lược năm 1974 và 1988.

Để bác bỏ luận điệu của TC, VN có rất nhiều luận cứ. Xin nêu ra mấy luận cứ quan trọng nhất:

04 juin 2014

Công ước Kế tục Quốc gia của Liên Hiệp Quốc không đòi hỏi thừa kế các hiệp định liên quan đến lãnh thổ

Theo BVNDiễn Đàn


Tạ Văn TàiVũ Quang Việt
2-6-2014

Hiện nay, đối với công hàm Phạm Văn Đồng 1958 (và các văn kiện liên quan khác nếu có giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), giới học giả Việt Nam có hai quan điểm đối nghịch (xin xem ở đây): (1) Phải thoát khỏi công hàm này bằng cách Quốc hội phủ quyết nó (Nguyễn Khắc Mai) hay bằng cách chính quyền tuyên bố thành lập chế độ mới, để khỏi phải kế tục ràng buộc pháp lý của nó (Hà Sĩ Phu); (2) Không thể thoát khỏi công hàm này bằng các giải pháp nêu trên vì luật quốc tế không thừa nhận điều đó (Dương Danh Dy). Bài viết sau đây của hai tác giả Tạ Văn Tài và Vũ Quang Việt đưa ra một văn kiện quan trọng: Công ước Kế tục Quốc gia đối với Hiệp ước 1978, theo đó / Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là quốc gia kế tục có thể bác bỏ các hiệp ước về lãnh thổ bất bình đẳng hoặc do sức ép mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải chịu nhận.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
Bauxite Việt Nam
Trong vấn đề kế tục quốc gia, một công ước quan trọng của Liên Hiệp Quốc về việc kế tục quốc gia gần như đã bị các nhà nghiên cứu người Việt Nam và người nước ngoài bỏ qua hay chưa nhắc tới. Công ước Kế tục Quốc gia đối với Hiệp ước 1978 (Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties 1978).[1] Công ước này được soạn xong ngày 23 tháng 8 năm 1978 và có hiệu lực từ ngày 6 tháng 11 năm 1996. Việc kế tục quốc gia (State) khác hẳn với việc kế tục chính quyền dù là việc thay đổi chính quyền mang tính chất thay đổi thể chế, chứ không chỉ có nghĩa là thay đổi người lãnh đạo. Ở đây thay đổi quốc gia là sự thay đổi cơ bản về căn cước pháp lý quốc tế của một quốc gia (state), có thể gồm cả mặt thể chế, chính quyền, công dân và đặc biệt quan trọng là thay đổi lãnh thổ – qua việc phân chia lãnh thổ, hay sáp nhập lãnh thổ của quốc gia trước nó. Bài này sẽ làm sáng tỏ nội dung của Công ước này liên quan đến lãnh thổ và thử áp dụng vào trường hợp Việt Nam, khi ta giả dụ cho cuộc bàn luận này là có một hiệp ước về lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc trước đó.

03 juin 2014

Thảo luận về giải pháp lấy lại Hoàng Sa liên quan đến Công hàm Phạm Văn Đồng

 

 
03-06-2014
Sau khi Bauxite Việt Nam đăng bài Xóa bỏ tai họa công thư Phạm Văn Đồng 1958của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, chúng tôi nhận được bài của anh Hà Sĩ Phu bàn về cách thoát khỏi sự ràng buộc của Công hàm này, và thư của anh Dương Danh Huy nhắc lại một bài anh đã công bố liên quan đến Công hàm Phạm Văn Đồng. Nhận thấy cả hai bài đều có ích cho nhận thức của chúng ta, Bauxite Việt Nam xin đăng để rộng đường dư luận.
Bauxite Việt Nam
Bàn về hai cách thoát khỏi Công hàm 1958

01 juin 2014

Học giả Trung Quốc phản biện những lập luận của Việt Nam về Công hàm Phạm Văn Đồng*

  
Theo Dân News
Ngô Viễn Phú



*Bài này Dân News tổng hợp trên các trang mạng. Được biết ông Ngô Viễn Phú hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam (Đại học Dân tộc Quảng Tây), từng là du học sinh của Đại học Quốc gia Việt Nam. Ngô Viễn Phú cho biết ông từng theo học chương trình tiến sĩ luật học tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam, từ năm 2001 đến năm 2006.


31 mai 2014

Trần Trung Đạo: Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc

hoangsaSau 40 năm nếu tính từ thời gian hải quân Trung Cộng tấn chiếm Hoàng Sa và 56 năm kể từ khi Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, lần đầu tiên lãnh đạo CSVN chính thức phủ nhận công hàm. Bao nhiêu lần lập đi lập lại câu thần chú “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý vững chắc về chủ quyền đối với Hoàng Sa” nhưng giới lãnh đạo CSVN không hề nhắc đến công hàm, tưởng chừng như văn bản đó không phải là của họ. Thứ Sáu 23-5-2014, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Biên Giới Quốc Gia, trong cuộc họp báo với mục đích “làm rõ công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng” đã đưa ra các lý luận để phản bác các quan điểm của Trung Cộng.
 

28 mai 2014

Chủ quyền đối với Hoàng Sa: Về một bài báo thiên vị Trung Quốc

Theo Phạm Đoan Trang
Vào ngày 15/5/2014, Sam Bateman, nghiên cứu viên cấp cao của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS, thuộc Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore), đã có bài phân tích đăng trên Eurasia Review, nhan đề “Công hàm Phạm Văn Đồng làm lung lay yêu sách chủ quyền của Việt Nam”.


27 mai 2014

TS Tạ Văn Tài: Trung Quốc không có lý gì khi viện dẫn công thư 1958

                           
Để biện minh cho việc đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển chủ quyền của Việt Nam, Trung Quốc đã viện dẫn công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 (gọi tắt là công thư 1958) cho rằng công thư này đã nhượng Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Trao đổi với phóng viên TTXVN, Tiến sỹ Tạ Văn Tài - luật sư, cựu giảng viên và đương kim nghiên cứu viên tại Trường Luật Harvard (Mỹ) - cho rằng có hai luận cứ pháp lý quốc tế cho thấy biện dẫn của Trung Quốc là phi lý.

26 mai 2014

Công thư 1958 không có giá trị pháp lý

 

Theo Vnexpress
"Với các sự chuyển nhượng lãnh thổ, Thủ tướng không có thẩm quyền quyết định mà phải là cơ quan quyền lực tối thượng ở Việt Nam là Quốc hội", Thạc sĩ Hoàng Việt, thành viên Quỹ Nghiên cứu biển Đông kiêm cố vấn học thuật của Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa nhận định.

25 mai 2014

Sự thật Công thư 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng

  Theo Tuổi trẻ 

 TTO - Tuổi Trẻ Online xin giới thiệu nội dung phỏng vấn thạc sĩ Hoàng Việt - một nhà nghiên cứu lâu năm về biển Đông - để bạn đọc hiểu rõ các vấn đề về công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai ngày 14-9-1958.
Hình ảnh tàu Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu Việt Nam - Ảnh: Cảnh sát biển Việt Nam
  Bởi vì theo các quy định trong Hiệp định Geneve năm 1954 thì lúc này trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại song song hai quốc gia, từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc là VNDCCH, còn từ vĩ tuyến 17 trở vào phía Nam là lãnh thổ thuộc VNCH. Hoàng Sa, Trường Sa đều nằm ở phía Nam của vĩ tuyến 17, vì thế về mặt pháp lý cũng như trong thực tế, hai quần đảo này là đối tượng quản lý của VNCH, và vì thế, những tuyên bố của phía VNDCCH đối với Hoàng Sa, Trường Sa vào thời điểm này là không có giá trị pháp lý.