02 octobre 2015

Cải cách thể chế, mệnh lệnh không thể chần chừ

Tư Giang


(TBKTSG) - Trong hai hội thảo quan trọng gần đây do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung đều cho rằng “cải cách thể chế để phát triển là mệnh lệnh không thể chần chừ”. Quan điểm này được nhiều học giả đồng tình. Theo ông Cung, cải cách lần đầu năm 1986 đã hết dư địa, còn cải cách hiện nay chỉ mới đang chớm và khó hơn rất nhiều.

Cơ chế xin - cho làm nhà đầu tư có xu hướng trở thành nhà đầu cơ, dù họ lớn hay nhỏ. Đầu cơ có nghĩa là họ bòn rút giá trị gia tăng của xã hội, chứ không phải tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. Đây không phải là trò chơi win-win, mà là trò chơi anh thắng tôi thua, xã hội thua.



 TBKTSG: Thưa ông, tăng trưởng kinh tế theo thống kê đang tốt lên đấy chứ? 

- Ông Nguyễn Đình Cung: Gần đây chúng ta nói tăng trưởng có phục hồi sau khi chạm đáy năm 2009, nhưng tăng trưởng có được nhờ ổn định kinh tế vĩ mô và cắt giảm đầu tư công. Hơn nữa, tăng trưởng chưa rõ nét và chưa được đảm bảo trong tương lai.

Bên cạnh đó, năng suất lao động lại có xu thế giảm xuống. Đây là điều hoàn toàn trái ngược với nhu cầu tăng trưởng. Lâu nay tăng trưởng dựa vào tăng số lượng lao động. Năm 2011 tăng trưởng lao động là 2,8%, như vậy, năng suất lao động chỉ tăng hơn 4% là đạt tăng trưởng hơn 7%. Từ nay trở đi thì tăng trưởng lao động hàng năm chỉ vào khoảng 0,5%, vì vậy, muốn tăng trưởng 7% thì năng suất lao động phải tăng trưởng 6,5% trở lên. Rõ ràng, từ mức tăng 3,8%/năm hiện nay mà tăng lên 6,5%/năm là không thể. Không có nhiều nước trên thế giới làm được điều này.

Lâu nay tăng trưởng theo chiều rộng, dựa vào vốn, khai thác tài nguyên. Nay ta không thể tiếp tục con đường này nữa, không thể mở rộng đầu tư nhà nước, huy động vốn trái phiếu. Vậy mà cách thức tăng trưởng mới chưa thấy. 

TBKTSG: Trong các vấn đề của nền kinh tế hiện nay, đâu là điều ông lo lắng nhất? 

- Rủi ro nhất về vĩ mô hiện nay là ngân sách. Có hai nguyên tắc vàng chúng ta đang phạm phải. Tốc độ tăng chi nhanh hơn so với tăng thu, làm thâm hụt ngày càng lớn; và tăng chi đầu tư lại thấp hơn tăng chi thường xuyên, tức chi dài hạn để tạo ra tăng trưởng lại thấp hơn so với chi tiêu ăn uống hàng ngày. Vì thế, nợ công tăng lên, bội chi gia tăng. Xu hướng này vẫn tiếp tục, chưa thấy điểm dừng, và áp lực ngày càng lớn, không có dấu hiệu ngăn chặn xu hướng này.

Mặt khác, tôi chỉ thấy các biện pháp xử lý ngắn hạn, ví dụ giảm thu thì phải thu triệt để. Biểu hiện rõ nét gần đây là tăng thuế, phí. Gánh nặng về thuế phí đè lên người dân và doanh nghiệp làm họ mất động lực và chán nản. Vậy mà tôi không thấy có phản ứng khắc phục bệnh tình. Cách thức này sẽ mang lại rủi ro làm bất ổn vĩ mô xảy ra bất kỳ lúc nào, và ảnh hưởng nghiêm trọng cho tăng trưởng trong dài hạn. Đây là điểm tôi rất quan ngại, thậm chí lo ngại hơn vấn đề của hệ thống ngân hàng.

Vấn đề ngân sách, nợ xấu... là do thể chế của chúng ta sai lệch, tạo ra động lực sai lệch, từ đó dẫn dắt nguồn lực trong xã hội phân bổ sai lệch, méo mó. 

TBKTSG: Ông có thể chứng minh cụ thể luận điểm này? 

- Lẽ ra vốn phải chảy từ nơi hiệu quả thấp sang nơi hiệu quả cao, thì Việt Nam ngược lại, vốn chảy vào nơi hiệu quả thấp. Các ngành có hiệu quả cao hơn như dệt may, điện tử lại thu hút ít vốn. Những ngành hiệu quả thấp như bất động sản, ngân hàng, bán lẻ lại có nhiều vốn chảy vào.
Vốn cũng chảy vào các ngành khai mỏ, công ích, xây dựng, tài chính, là những ngành có tăng trưởng năng suất lao động âm thời gian qua. Nghịch lý nữa là các doanh nghiệp lớn lẽ ra phải có năng suất cao, có khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật, thì ở Việt Nam những doanh nghiệp như vậy, nhất là của tư nhân, lại có năng suất vốn thấp.

 
Như vậy, là có sai lệch nghiêm trọng về phân bổ nguồn lực, gây nên những căn bệnh của nền kinh tế. 

TBKTSG: Vì sao các doanh nghiệp có hiệu quả thấp lại vẫn thu hút được nhiều vốn đầu tư? 

- Do có địa tô lớn. Vốn chạy vào đó để lấy địa tô chứ không phải lấy giá trị gia tăng. Các doanh nghiệp lớn là dựa trên vị thế độc quyền và cơ chế xin-cho. Họ xin và xin được vì thân thiết, vì những lý do khác chứ không phải họ làm tốt hơn doanh nghiệp khác. Đây là biểu hiện của chủ nghĩa tư bản thân hữu mà nhiều người nói.

Cơ chế này làm nhà đầu tư có xu hướng trở thành nhà đầu cơ, dù họ lớn hay nhỏ. Đầu cơ có nghĩa là họ bòn rút giá trị gia tăng của xã hội, chứ không phải tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. Xã hội chỉ có ngần ấy nguồn lực, anh này lấy đi thì anh khác mất. Đây không phải là trò chơi win-win, mà là trò chơi anh thắng tôi thua, xã hội thua; chỉ có một nhóm thắng không phải do tài giỏi, không phải đóng góp tạo ra giá trị gia tăng. Họ lấy chủ yếu của xã hội.

Điều này là vì thể chế của chúng ta sai lệch, tạo ra động lực sai lệch. Những nhóm người giữ quyền thế, và doanh nghiệp thân thích đang chiếm ưu thế hơn những nhóm khác trong xã hội. Nền kinh tế như thế thì không thể có tăng trưởng công bằng, và bền vững. 

TBKTSG: Trong các phiên thảo luận tại hai hội thảo, ông đều nhắc lại câu nói của nhà kinh tế Douglas North năm 1990: “Nếu quyền sở hữu tài sản không được đảm bảo, thực thi luật kém, còn tồn tại rào cản xâm nhập thị trường và hạn chế theo kiểu độc quyền thì các công ty vì lợi nhuận sẽ có xu thế theo đuổi tầm nhìn ngắn hạn, đầu tư cơ bản thấp và quy mô nhỏ. Các hãng lớn với số vốn đầu tư lớn chỉ tồn tại dưới cái ô bảo trợ của chính phủ, được hưởng nhiều khoản ưu đãi trợ giá, thuế và lại quả cho chính thể - một tình trạng không có lợi đối với hiệu suất hoạt động”. Vì sao vậy? 

- Bạn không thấy điều này đúng à? Chẳng hạn, mệnh đề “Nếu quyền sở hữu tài sản không được đảm bảo...” là rất đúng. Tài sản ở Việt Nam không được bảo đảm, rất bấp bênh. Một doanh nghiệp đang có một sản nghiệp tốt, nhưng có thể lâm vào rủi ro do thay đổi chính sách. Ví dụ, thời gian ân hạn thuế là 290 ngày, đột nhiên, có văn bản rút lại còn 100 ngày. Vậy là doanh nghiệp đang vay ngân hàng với tính toán đến lúc đó mới phải nộp thuế; và chính sách đột nhiên thay đổi thì họ trở tay không kịp. Vậy là thua lỗ, không thanh toán thuế, nợ... Tức là sản nghiệp đang tốt có thể thành sản nghiệp xấu, thua lỗ. Những thay đổi chính sách như vậy là hàng ngày ở ta. Ai cũng có thể giải thích cho thay đổi chính sách. Vụ kiểm toán ở Sabeco là điển hình. Ông nào cũng có thể vào kiểm tra, rồi giải thích luật theo cách của mình, làm doanh nghiệp có thể mất mát. Quyền tài sản rất quan trọng, nhưng lại không được đảm bảo.

Nhìn rộng ra, chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường thì một trong những trụ cột là chuyển đổi sở hữu, nhưng chuyển đổi sở hữu ở ta hoàn toàn dở dang. Đất đai, tài nguyên của chúng ta không có ai sở hữu cả. Sở hữu toàn dân, như TS. Phạm Duy Nghĩa nói, là khái niệm chính trị, không thể thực thi được về mặt luật pháp. Nó biến thành sở hữu của vài ông có quyền. Doanh nghiệp nhà nước cũng thế. Quá trình chuyển đổi sở hữu là quá trình dở dang, chưa thể có kinh tế thị trường vì nền tảng kinh tế thị trường là sở hữu tư nhân là chủ yếu.

“Thực thi luật kém, còn tồn tại rào cản thâm nhập thị trường và hạn chế theo kiểu độc quyền” ở ta đâu cũng có, của tư nhân hay của nhà nước. Như thế thì công ty chỉ chạy theo đầu cơ. Bảo vệ tài sản chưa được bảo đảm thì không ai chịu đầu tư dài hạn, trừ những ai tìm được ô bảo trợ để bảo vệ tài sản. Thể chế như thế thì khả năng đầu tư lớn của tư nhân là khó, và lớn đến mức nào đó, thì họ trở nên thậm tệ. 

TBKTSG: Trong dự thảo Báo cáo Việt Nam 2035 do WB tài trợ, ông và các đồng nghiệp tính toán rằng, nếu tăng trưởng 5%/năm thì đến năm 2035 GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng 75% GDP bình quân đầu người của Trung Quốc hiện nay và bằng 83% GDP bình quân đầu người của Thái Lan hiện nay. Nếu tăng trưởng 7%/năm từ nay đến năm 2035 thì đến năm 2035 GDP bình quân đầu người của Việt Nam bằng 98% của Malaysia hiện nay và bằng 183% của Trung Quốc hiện nay. Hàm ý ở đây là gì? 

- WB nói Việt Nam tăng trưởng 7% trong giai đoạn trước, đứng thứ hai trên thế giới là không sai, và chúng ta tự hào. Nhưng giai đoạn trước và nay đã rất khác nhau. Cho đến trước năm 2008, thì tăng trưởng trung bình đạt 7,6%/năm, nhưng từ đó đến nay tăng trưởng trung bình chỉ 5,8% thôi, khoảng cách là rất lớn.

Tính cấp bách của thay đổi là rất lớn như tôi đã mô tả về vi mô, vĩ mô. Vì thế, không thể không thay đổi trước thực trạng đất nước như thế này. Chúng ta muốn sánh vai với các quốc gia phát triển thì phải thay đổi. Một dân tộc không có tham vọng thì thôi, không bàn nữa. Nhưng chúng ta có tham vọng. Nếu không thay đổi thì tụt hậu xa hơn